Năm mục tiêu nâng chất dòng vốn FDI

(ĐTCK) Sau 25 năm triển khai thực hiện chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), bên cạnh vai trò tích cực, khu vực FDI cũng đã bộc lộ nhiều bất cập, đòi hỏi phải có sự điều chỉnh về chính sách cho phù hợp với xu thế phát triển.

Đó chính là mục tiêu Đề án định hướng FDI đến năm 2020 mà Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa tổ chức tọa đàm đầu tuần này.

Bất cập từ chính sách

Đồng tình với đánh giá khu vực FDI có tác động tích cực đến sự phát triển các ngành và cải thiện cơ cấu ngành trong nền kinh tế, nhưng nhiều đại biểu tham dự tọa đàm đều nhất trí cho rằng, chính sách và định hướng ưu đãi cho DN FDI thiếu nhất quán giữa các địa phương và giữa các giai đoạn phát triển.

Ông Phạm Thái Sơn, Trưởng ban quản lý Khu công nghiệp tỉnh Hưng Yên cho rằng, mục tiêu thu hút, sử dụng FDI thời gian qua còn dàn trải, thiếu trọng điểm và mang tính cào bằng ở nhiều địa phương.

“Vấn đề mấu chốt là phải xác định ưu tiên FDI vào lĩnh vực nào, ở khu vực nào, để trên cơ sở đó đề ra các giải pháp cụ thể thực hiện mục tiêu cũng như khắc phục, hạn chế những mặt trái của nguồn vốn này. Nhưng vấn đề này chưa được các cơ quan hoạch định chính sách quan tâm thấu đáo ”, ông Sơn nói.

Bên cạnh đó, nhiều chính sách về FDI đã được luật hóa, nhưng hoạt động thực thi vẫn còn nhiều bất cập. Ông Ngô Sĩ Bích, Trưởng ban quản lý Khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh phản ánh, theo quy định thì các DN FDI khi áp dụng công nghệ cao vào sản xuất sẽ được hưởng thêm những chính sách ưu đãi, nhưng nhiều hãng như Samsung hay Nokia vào đầu tư dây chuyền sản xuất hiện đại ở địa phương đã không được hưởng những ưu đãi này.

“Chúng tôi đã từng làm việc với Bộ Khoa học và Công nghệ, khi hỏi theo Luật Công nghệ cao thì đã có DN FDI nào đầu tư vào Việt Nam có đủ điều kiện để được hưởng ưu đãi theo luật này chưa, thì câu trả lời là chưa. Vậy có cần phải xem xét xây dựng lại Luật hay không khi mà sau nhiều năm triển khai thực hiện vẫn không có DN nào đủ điều kiện để được hưởng ưu đãi”, ông Bích cho biết.

Ông Thái Bá Cảnh, Phó ban quản lý Khu công nghiệp và Khu chế xuất Đà Nẵng lại cho rằng, trong khi một số quy định về ưu đãi bị xây dựng quá ngặt nghèo, thì có những quy định lại quá hở để cho nhiều DN FDI lợi dụng như các ưu đãi về đất đai, về vay vốn, hay các thủ tục xuất nhập khẩu… Thậm chí, theo ông Cảnh, có những DN FDI cam kết đầu tư hàng tỷ USD vào dự án, được cấp hàng trăm héc-ta đất, nhưng trên thực tế lượng vốn chuyển vào đầu tư chẳng được bao nhiêu. Vì vậy, ông Cảnh kiến nghị, cần đẩy mạnh công tác hậu kiểm, nếu DN FDI nào không thực hiện đúng cam kết về vốn, về công nghệ, về sử dụng lao động địa phương… sẽ phải giảm bớt ưu đãi cho phù hợp.

 

5 mục tiêu thu hút FDI

Nói về việc lựa chọn một số định hướng ưu tiên thu hút FDI đến năm 2020, ông Đỗ Nhất Hoàng, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho rằng, trong thời gian tới cần hướng dòng vốn FDI theo những mục tiêu cụ thể như sau.

Thứ nhất, chính sách FDI của Việt Nam cần chuyển sang coi trọng cơ cấu và chất lượng. Trước đây, Việt Nam đã chú trọng đến việc thu hút các dự án FDI về lương. Tuy nhiên, thu hút quá nhiều mà không hiệu quả có thể dẫn đến các bất ổn xã hội, làm trầm trọng thêm tình trạng quá tải cơ sở hạ tầng kinh tế.

Ưu tiên thứ hai trong việc thu hút FDI là các hoạt động thân thiện với môi trường, hướng tới sự phát triển bền vững.

Thứ ba là ưu tiên các DN FDI áp dụng công nghệ hiện đại. Theo ông Hoàng, để làm được điều này, cần xem xét việc hình thành một số trung tâm R&D tại các vùng kinh tế trọng điểm với sự tham gia của các công ty đa quốc gia có mặt tại Việt Nam, có nhiệm vụ truyền bá những kiến thức mới cho các DN trong nước.

Thứ tư là xác định việc thu hút FDI nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, lao động có kỹ năng.

Thứ năm là thu hút FDI nhằm tăng cường liên kết với DN trong nước, kết nối chuỗi giá trị và nâng chất trong chuỗi giá trị.

Để thực hiện các mục tiêu trên, ông Hoàng kiến nghị cần sửa đổi chính sách ưu đãi đầu tư theo hướng lĩnh vực ưu đãi đầu tư phải phù hợp với định hướng thu hút FDI. Cụ thể, cần xây dựng ưu đãi đầu tư cho từng nhóm DN mục tiêu khác nhau. Ví dụ, những DN được kỳ vọng tạo nhiều việc làm không cần phải ưu đãi quá nhiều về thuế, nhưng có thể cần hỗ trợ tiếp cận đất và cơ sở hạ tầng; những DN được kỳ vọng tăng năng lực công nghệ và kỹ năng cho lao động, có thể cần thời gian ưu đãi đầu tư lâu hơn và cần những hỗ trợ về đào tạo nhân lực và áp dụng công nghệ cao.

Đặc biệt, theo ông Hoàng, bên cạnh hệ thống ưu đãi chuẩn, cần có hệ thống ưu đãi linh hoạt, hướng vào các nhà đầu tư mục tiêu.

“Các chính sách ưu đãi cần thực hiện theo nguyên tắc có điều kiện và có thời gian. Những nhà đầu tư thực hiện tốt các mục tiêu kỳ vọng có thể được gia hạn và tăng thêm các điều kiện ưu đãi”, ông Hoàng đề xuất.

 



KEYWORD_1KEYWORD_2KEYWORD_3